Thứ Bảy, 27 Tháng Mười Một 2021

Nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ qua các trụ đá Asoka (P.2)

6. Bốn trụ đá của Asoka

a. Trụ đá tại Lumbinī

Lumbinī (Lâm-tỳ-ni) là nơi đản sanh của Đức Phật, một Thánh địa ở vùng Rupandehi thuộc Nepal, tọa lạc dưới chân Himalaya (Hy Mã Lạp Sơn), cách 25 km về phía Đông của Kapilavastu (Ca-tỳ La-vệ), kinh thành xưa nơi Ngài trước khi xuất gia đã sinh sống. Năm 249 TCN, vua Asoka đã đến viếng thăm và chiêm bái Lumbinī. Tại đây, ông đã cho dựng lên một trụ đá để đánh dấu nơi Đức Thế Tôn xuất hiện tại thế gian này. Sắc lệnh khắc trên trụ đá này có nội dung: “Người con yêu của các thần linh, Vua lòng thương nhìn đời, vào năm 20 sau khi lên ngôi đã đến chiêm bái nơi đây, nơi Đức Phật Śākyamuni ra đời. Một tường rào đá và một trụ đá được dựng lên để tôn vinh Đức Thế Tôn đã sinh ra tại đây; làng Lumbinī được giảm thuế và chỉ đóng một phần tám lợi tức”8.

Ban đầu, trên đầu trụ đá này có tượng một con ngựa, nhưng sau đó bị hư bể chỉ còn thân trụ và cao 6,7 m. Theo Đại Đường Tây vực ký, Ngài Huyền Trang (602 – 664) có đến chiêm bái Lumbinī vào thế kỷ thứ VII, Ngài mô tả trên đầu trụ có con ngựa, nhưng về sau trụ bị sét đánh nên đầu có con ngựa bị hư mất. Chính căn cứ vào bộ ký sự này mà vào năm 1896, các nhà khảo cổ Nepal đã khai quật và phát hiện ra trụ đá sau gần 15 thế kỷ Lumbinī bị rơi vào quên lãng và điêu tàn kể từ lúc các Thánh địa Phật giáo bị tàn phá dưới bàn tay của người Hồi giáo vào nửa cuối thế kỷ thứ XIII9. Trụ đá đứng gần bên đền thờ Māyādevī (Ma-da) vị hoàng hậu đã hạ sanh Thái tử Siddārtha Gautama (Tất-đạt-đa), trên trụ có khắc dòng chữ xác nhận khu vực nơi Đức Phật đản sanh, khoảng năm 563 – 483 TCN, Ngài thọ 80 tuổi. Đến năm 1997, Lumbinī chính thức được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa thế giới”, từ đó Thánh tích này được quốc tế bảo hộ và tiếp tục công cuộc khai quật, trùng tu và tôn tạo.

Hình 10: Bên trái: Trụ đá và sắc lệnh của Asoka tại Lumbinī, Nepal, được phát hiện vào năm 1986, với vị trí và dòng chữ, được giấu khoảng một mét dưới mặt đất. Bên phải: Trụ đá ngày nay, bị gãy làm đôi và được bịt kín để bảo vệ. Nơi ghi dấu Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đản sanh (Wikipedia.org).

Hình 11: Trụ đá đặt bên cạnh đền thờ Hoàng hậu Māyādevī tại Lumbinī (Wikipedia.org).

b. Trụ đá tại Sārnāth

Sārnāth (Lộc Uyển), gần thành Vāraṇāsī hay còn gọi là Banāras (Ba-la-nại). Đây là nơi đánh dấu một sự kiện hết sức trọng đại, lần đầu tiên Đức Thế Tôn “Chuyển Pháp luân” và “Thành lập Tăng đoàn” sau khi hóa độ năm vị đệ tử chứng đắc Thánh quả. Ngôi Tam bảo (Triratna), tức gồm Phật bảo (Buddha), Pháp bảo (Dharma) và Tăng bảo (Shagha) được chính thức ra đời10. Đây là trụ đá có phần đầu gồm 4 con sư tử nổi tiếng và đặc biệt nhất trong các trụ đá do hoàng đế Asoka dựng lập, nó còn được gọi là “Trụ đá đầu sư tử của Asoka” (Lion Capital of Asoka), có niên đại khoảng năm 250 TCN nhưng bị gãy đổ không còn nguyên vẹn, trên thân trụ có khắc sắc lệnh của Asoka với nội dung “Nghiêm cấm các hành vi ly gián Tăng đoàn”. Sắc lệnh này cũng được tìm thấy ở Kauśāmbī và Sāncī, tức đều cùng nội dung đề cập đến vấn đề chia rẽ nội bộ Phật giáo: “Người con yêu của các thần linh ra lệnh cho các quan chức cấp cao tại Kauśāmbī rằng: Bất cứ ai làm chia rẽ Tăng chúng mà hiện nay đang thống nhất thì không được chấp nhận ở trong Tăng chúng. Bất cứ ai, dù Tăng hay Ni mà làm chia rẽ Tăng chúng thì buộc phải mặc y phục trắng và không được ở trong tu viện nào”11.

Phần đầu trụ đá được tạo từ một khối sa thạch Chunar có màu nâu đẹp dị thường, được mài láng bóng (chất đánh bóng thời kỳ Maurya) và cao 2,15 m. Trụ có ba phần: Trên cùng là bốn con sư tử châu Á đứng tựa lưng vào nhau, đặt trên một trụ ngắn tròn. Trên bề mặt trụ ngắn có 4 bánh xe với 24 nan, xen kẽ với 4 con vật xung quanh với tư thế di chuyển là con voi, con ngựa, con bò đực và con sư tử. Phần dưới cùng là một đế hình cái chuông úp ngược được cách điệu tạo nên những cánh hoa sen12.

Bốn đầu sư tử quay mặt về 4 hướng tượng trưng cho Chánh pháp của Đức Phật tại Sārnāth, nơi Ngài thuyết những bài pháp đầu tiên và từ đây ánh sáng chân lý được lan tỏa rộng khắp các hướng. Bánh xe tượng trưng cho “Bánh xe Pháp” (Dharma cakra) hay còn được gọi là “Bánh xe Asoka” (Asoka cakra) của Phật giáo được luân chuyển khắp thế gian. Bốn con thú tượng trưng cho bốn giai đoạn trong cuộc đời của Đức Phật: Con voi là ý niệm về giấc mộng của hoàng hậu Māyādevī khi thấy voi trắng chui vào hông phải và thọ thai Thái tử; con bò đực tượng trưng cho thời kỳ Thái tử Siddārtha Gautama ở hoàng cung; con ngựa tượng trưng cho sự ra đi tìm chân lý giải thoát khổ đau cho nhân loại và con sư tử tượng trưng cho đại hùng, lực, bi, trí, pháp âm vi diệu của Đức Phật13.

Ngoài ra, do ảnh hưởng của nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau nên trụ đá bốn đầu sư tử còn mang một ý nghĩa, biểu tượng khác: Bốn con thú kết hợp với bốn hướng, hoặc ít hơn, chúng tượng trưng cho vị thần linh của Hindu giáo. Thần bò của Brahmanism (Bà-la-môn giáo) hay Hinduism (Ấn giáo) hiện nay, voi là bánh xe của Indra (trời Đế-thích), sư tử của thần Durga. Đặc biệt, con ngựa được kết hợp với Surya, vị thần mặt trời đi ngang qua bầu trời bằng chiếc xe ngựa, như Apollo, thần mặt trời của người Hy Lạp14.

Hình 12: Bên trái: Trụ đá với biểu tượng 4 đầu sư tử với phần thân trụ bị gãy làm ba khúc. Bên phải: Ký tự Brāhmī khắc trên thân trụ đá Asoka với nội dung: Nghiêm cấm việc chia rẽ nội bộ Phật giáo (Wikipedia.org).

Ngày 26/01/1950, Quốc hội nước Cộng hòa Ấn Độ đã thống nhất chọn bốn đầu sư tử của trụ đá Asoka tại Sārnāth làm biểu tượng “Quốc huy” của đất nước. Phần đế hình chuông úp cách điệu hoa sen được cắt đi, thay vào đó là hàng chữ “Satyameva jayate” nghĩa là “Chỉ có chân lý chiến thắng”. Quốc huy này không chỉ là biểu tượng quốc gia mà còn xuất hiện trên mọi văn thư của cơ quan nhà nước, tiền, tem, hộ chiếu v.v… Còn “Bánh xe Asoka” được đặt vào vị trí trung tâm15 của quốc kỳ Ấn Độ (22/07/1947).

Hình 13: Bên trái: Đầu trụ đá 4 sư tử của Asoka, bằng sa thạch đánh bóng Chunar, cao 2,15 m, thời kỳ Maurya, thế kỷ III TCN (Bảo tàng Khảo cổ học, Sarnath, Ấn Độ).

Bên phải: Quốc huy Ấn Độ lấy ý tưởng từ trụ đá Asoka (Wikipedia.org).

Hình 14: Bánh xe Asoka được in giữa nền trắng của quốc kỳ Ấn Độ (Wikipedia.org).

c. Trụ đá tại Vaiśālī

Vào thời Đức Phật còn tại thế, Vaiśālī (Vệ-xá-ly hay Tỳ-xá-ly) là một thành phố lớn với dân số đông đúc và thịnh vượng của vương quốc Licchavi, cái nôi của nền văn hóa Triết học Phật giáo. Đức Phật đã từng đến đây nhiều lần, giáo hóa và giảng dạy những bài pháp cuối cùng trước khi nhập Niết-bàn (483 TCN). Vaiśālī còn là nơi tổ chức cuộc “Đại hội kết tập Kinh điển lần thứ 2”, được bảo trợ bởi vua Kālāśoka, tức sau hơn 100 năm ngày Đức Thế Tôn nhập diệt. Cuộc kết tập bàn về “Mười điều phi pháp” (theo quan điểm của Nam Truyền) và “Năm việc của Đại Thiên” (theo truyền thống Bắc Truyền)16. Đây cũng là nơi “Thành lập Ni đoàn” đầu tiên sau khi Di mẫu Mahā Pajāpati Gotamī (Ma-ha Ba-xà-ba-đề) và các hàng nữ nhân dòng dõi quý tộc được Đức Phật cho phép xuất gia, gia nhập vào hàng ngũ “Giáo hội Tăng-già” nhưng với điều kiện phải ngiêm giữ “Bát kỉnh pháp”17.

Hình 15: Tháp Ᾱnanda và trụ đá Asoka tại Kolhua, Vaiśālī, bang Bihar (Wikipedia.org).

Asoka cho dựng lập trụ đá và bảo tháp tại đây và chúng vẫn còn trong tình trạng rất tốt. Trên đầu trụ là tượng một con sư tử châu Á, mặt hướng về phía bắc để chỉ nơi Đức Phật nhập Niết-bàn (tại Kushinagar), đây cũng là trụ đá duy nhất còn lại đứng nguyên và hoàn chỉnh nhất. Tuy nhiên, trên trụ đá này lại không có dấu tích gì về sắc lệnh do nhà vua ban.

Hình 16: Đầu tượng sư tử và trụ đá Asoka (không ghi sắc lệnh trên thân trụ) tại Vaiśālī, bang Bihar, Đông Ấn Độ. Nơi ghi dấu Đức Phật từng hành đạo và giảng những bài pháp cuối cùng trước khi nhập Niết Bàn tại Kushinagar (Wikipedia.org).

d. Trụ đá tại Sāṃkāśya

Đây là Thánh tích Phật giáo, một thành phố nổi tiếng từ thời Thế Tôn tại thế. Vào năm hạ thứ bảy, Đức Phật đã lên cung trời Trāyastriṃśa (Đao Lợi) để thuyết Abhidhamma (Vi Diệu Pháp) cho Thiên chúng và thân mẫu là hoàng hậu Māyādevī nghe trong suốt mùa mưa (theo Nam Truyền). Cũng tại cõi trời này, Đức Phật đã giảng Kinh Địa Tạng trong ba tháng cho hoàng hậu cùng chư Thiên và bà đã chứng được sơ Thánh quả (theo truyền thống Đại Thừa Phật giáo)18. Sau khi Đức Phật giảng Pháp xong, Śakra cùng Thiên chúng cung kính tiễn đưa và cúng dường ba cái thang để Ngài trở về quả địa cầu. Cái thang trái bằng vàng dành cho chư Thiên, cái thang phải bằng bạc dành cho Mahā Brahmā (Đại Phạm Thiên Vương) và cái thang giữa bằng châu báu dành cho Đức Phật.

Hình 17. Bức phù điêu mô tả Đức Phật từ cõi trời trở về thế gian (Wikipedia.org).

Asoka đã cho dựng một trụ đá, xây một bảo tháp và ngôi đền tại Sāṃkāśya để tưởng niệm vị trí đặc biệt này. Bảo tháp được dựng lên ghi dấu nơi bàn chân phải của Đức Phật chạm đất lần đầu sau khi từ cõi trời trở lại thế gian. Khi Ngài Pháp Hiển và Huyền Trang đến viếng nơi này xác nhận có ba cái thang được xây dựng bằng gạch đá để tưởng niệm cuộc trở về của Đức Phật, nhưng những chiếc thang hầu như đã chìm xuống đất. Năm 1842, nhà khảo cổ người Anh là Alexander Cunningham đã khám phá ra vùng này. Khi khai quật, trụ đá của Asoka không còn được nguyên vẹn vì mất thân trụ, chỉ có phần đầu trụ đá là một con voi đã bị hư, bể mất vòi, không được mài láng, phần đế được đánh bóng một phần19.

Hình 18: Phần đầu tượng voi của trụ đá Asoka được bảo quản tại nơi khai quật ở Sāṃkāśya (Wikipedia.org).

KẾT LUẬN

Các trụ đá Asoka và những sắc lệnh khắc trên trụ đá là một trong những tác phẩm điêu khắc được biết đến sớm nhất, mở đầu cho nền nghệ thuật Phật giáo nói chung và nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ nói riêng. Đó là những công trình kỳ vĩ của một nền văn minh thuộc hàng đỉnh cao thời cổ đại. Chứng cứ quan trọng để xác định, chứng minh quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo, về Đức Phật Thích-ca Mâu-ni lịch sử và một hoàng đế Asoka có thật.

Trong những công trình nghệ thuật đầu tiên nhất của Phật giáo, hình tượng của Đức Phật chưa được mô tả dưới dạng hình người, nhưng các sự kiện trọng đại liên quan đến cuộc đời của Ngài đều được biểu hiện qua các biểu tượng khác nhau. Thông qua các hình ảnh ẩn dụ, biểu trưng từ đó toát lên hình ảnh về Đức Phật, về tinh yếu giáo lý Phật pháp, đó là những công trình tác phẩm có giá trị nghệ thuật thẩm mỹ cao, tinh tế và hàm chứa nội dung và ý nghĩa sâu sắc.

Nghệ thuật Phật giáo thời kỳ Asoka của triều đại Maurya là tiền đề quan trọng, đặt nền móng, cơ sở cho sự phát triển các phong cách nghệ thuật sau đó tại Ấn Độ cũng như sự phổ biến nền mỹ thuật ra khắp châu Á và nghệ thuật Phật giáo đương đại sau này.

Thích Thiện Đức


Chú thích

8. Lê Tự Hỷ (2018), Đại đế Asoka từ huyền thoại đến sự thật, NXB. Đà Nẵng, tr. 97 – 98.

9. Thích Thanh Kiểm (2014), Lược sử Phật giáo Ấn Độ, NXB. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 246 – 247.

10. Thánh Nghiêm và Tịnh Hải, Nguyễn Đức Sâm và Mai Xuân Hải, Nguyễn Tá Nhí (biên dịch) (2008), Lịch sử Phật giáo thế giới, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 38.

11. Lê Tự Hỷ (2018), Đại đế ASOKA từ huyền thoại đến sự thật, NXB. Đà Nẵng, tr. 64 – 65.

12. Roy C. Craven (2005), Mỹ thuật Ấn Độ, Nguyễn Tuấn – Huỳnh Ngọc Trảng (dịch), NXB. Mỹ Thuật, Hà Nội, tr. 47 – 48.

13. Michael Kampen O’Riley (2005), Những nền mỹ thuật ngoài phương Tây, Phan Quang Định (biên dịch), NXB. Mỹ Thuật, Hà Nội, tr. 72.

14. Sherman E. Lee (2007), Lịch sử mỹ thuật Viễn Đông, Trần Văn Huân (biên dịch), NXB. Mỹ Thuật, Hà Nội, tr. 94.

15. Lá cờ Ấn Độ có ba sọc ngang với ba màu là: vàng nghệ, trắng và xanh lá cây, ở giữa là bánh xe Asoka với 24 nan hoa.

16. Sasaki Kyogo và Takasaki Jikidou, Inokuchi Taijun, Tsukamoto Keisho, Thích Đạt Hòa (Hán dịch), Thích Hạnh Bình và Phương Anh (Việt dịch) (2017), Khái luận Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, NXB. Phương Đông, Hồ Chí Minh, tr. 53 – 58.

17. Nārada Mahāthera, Phạm Kim Khánh (dịch) (2015), Đức Phật và Phật pháp, , NXB. Hồng Đức, Hà Nội, tr. 122 – 126.

18. Thích Trung Hậu và Thích Hải Ấn (sưu tập & giới thiệu), Đức Phật Thích Ca đã xuất hiện như thế, NXB. Văn hóa Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh, tr. 432.

19. Lê Tự Hỷ (2018), Đại đế Asoka từ huyền thoại đến sự thật, NXB. Đà Nẵng, tr. 70 – 72.

Tài liệu tham khảo

1. Roy C. Craven, Nguyễn Tuấn và Huỳnh Ngọc Trảng (dịch) (2005), Mỹ thuật Ấn Độ, NXB. Mỹ thuật, Hà Nội.

2. Michael Kampen O’Riley, Phan Quang Định (biên dịch) (2005), Những nền mỹ thuật ngoài phương Tây, NXB. Mỹ thuật, Hà Nội.

3. Sherman E. Lee, Trần Văn Huân (dịch) (2007), Lịch sử mỹ thuật Viễn đông, NXB. Mỹ thuật, Hà Nội.

4. Lê Tự Hỷ (2018), Đại đế Asoka từ huyền thoại đến sự thật, NXB. Đà Nẵng.

5. Nguyễn Tuệ Chân (biên dịch) (2008), Nghệ thuật Phật giáo, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.

6. Nguyễn Tuệ Chân (biên dịch) (2008), Toàn tập giải thích hình tượng hoa sen Phật giáo, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.

7. Thánh Nghiêm và Tịnh Hải, Nguyễn Đức Sâm và Mai Xuân Hải, Nguyễn Tá Nhí (biên dịch) (2008), Lịch sử Phật giáo thế giới, NXB. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

8. Thích Thanh Kiểm (2014), Lược sử Phật giáo Ấn Độ, NXB. Tôn giáo, Hà Nội.

9. Sasaki Kyogo và Takasaki Jikidou, Inokuchi Taijun, Tsukamoto Keisho, Thích Đạt Hòa (Hán dịch), Thích Hạnh Bình và Phương Anh (Việt dịch) (2017), Khái luận lịch sử Phật giáo Ấn Độ, NXB. Phương Đông, TP. Hồ Chí Minh.

10. Nārada Mahāthera, Phạm Kim Khánh (dịch) (2015), Đức Phật và Phật Pháp, NXB. Hồng Đức, Hà Nội.

11. Thích Trung Hậu và Thích Hải Ấn (sưu tập & giới thiệu), Đức Phật Thích Ca đã xuất hiện như thế, NXB. Văn hóa Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh.

TIN KHÁC
CÙNG CHUYÊN MỤC
Scroll Up