Thứ Bảy, 27 Tháng Mười Một 2021

Nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ qua các trụ đá Asoka (P.1)

n Độ là một trong những nền văn minh lâu đời nhất của nhân loại, khởi nguồn từ thời kỳ Văn hóa Harappa (văn minh Ấn – Hà) vào khoảng năm 3300 – 1700 TCN, tại vùng Tây Bắc tiểu lục địa Ấn. Với lịch sử tồn tại trên 5000 năm cùng nhiều thành tựu văn hóa rực rỡ, Ấn Độ là quốc gia có nhiều tôn giáo, trong đó chi phối nhiều nhất là Phật giáo (Buddhism) và Ấn Độ giáo (Hinduism). Đây là cơ sở cho sự phát triển nền nghệ thuật Ấn Độ trên nhiều phương diện, nhất là lĩnh vực kiến trúc, điêu khắc và hội họa. Nghệ thuật Phật giáo tại Ấn Độ được hình thành sau khi bậc Đạo sư khai sáng Thích-ca Mâu-ni (Śākyamuni) nhập diệt. Đến thời kỳ Maurya với sự xuất hiện của Asoka, vị minh quân với lòng nhiệt thành hộ trì Chánh pháp và là người đầu tiên đặt nền móng cho sự phát triển của nền nghệ thuật Phật giáo.

1. Khái quát nghệ thuật Phật giáo

Nghệ thuật là sự sáng tạo ra sản phẩm vật thể hay phi vật thể, hàm chứa những thông điệp, biểu tượng và giá trị tư tưởng sâu sắc, làm kích thích đến tư duy và cảm xúc của người thưởng thức thông qua các giác quan. Nghệ thuật nhân loại được hình thành từ khi loài người xuất hiện, đó là một bề dài lịch sử lâu đời, đa dạng và mỗi truyền thống đều mang những phong cách và sắc thái riêng biệt tùy vào bối cảnh lịch sử, văn hóa, tôn giáo tại khu vực của xứ sở ấy. Trên cơ sở đó, sự xuất hiện của nghệ thuật tôn giáo nhằm mục đích truyền bá, giải thích tư tưởng giáo lý và tôn vinh niềm tin trong tôn giáo. Nghệ thuật Phật giáo cũng được hình thành sau sự ra đời của Đạo Phật. Đó là sự phản ánh các khái niệm trong Phật giáo dưới những hình thức nghệ thuật khác nhau, nhất là các lĩnh vực kiến trúc, điêu khắc, hội họa có liên quan đến Tam bảo. Khởi thủy từ tiểu lục địa Ấn Độ cách đây hơn 2500 năm sau khi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni (Śākyamuni) nhập Niết-bàn (563 – 483 TCN), từ đó phát triển thành một hệ thống đồ tượng biểu trưng đa dạng và phức tạp.

Nền nghệ thuật Phật giáo được chia làm hai thời kỳ chính: “Phi Thánh tượng” (thời kỳ tối sơ) và “Thánh tượng”. Ở thời kỳ “Phi Thánh tượng” (khoảng thế kỷ thứ V TCN – I), hình tượng Đức Phật chưa được thể hiện dưới dạng hình người mà chỉ là những biểu tượng đặc trưng. Giai đoạn hưng hịnh của nền nghệ thuật Phật giáo đầu tiên là vào thời đại của vương triều Maurya (Khổng-tước) với sự trị vì của hoàng đế Asoka (263 – 232 TCN), vị vua Phật tử nổi tiếng đã có công rất lớn trong việc truyền bá Phật giáo tại Ấn Độ và phổ biến ra khắp thế giới. Đến thời kỳ “Thánh tượng” (từ thế kỷ thứ I đến nay), hình tượng Phật đầu tiên xuất hiện vào khoảng thế kỷ I tại Gandhāra và Mathurā. Từ đó, nghệ thuật Phật giáo đã lan rộng đến Trung Á, Nam Á, Đông Nam Á cùng với sự “tiếp biến” với các nền văn hóa khác nhau mà trở nên phong phú, đa dạng, tinh tế và phức tạp.

2. Maurya, nền mỹ thuật Phật giáo đầu tiên

Maurya (322 – 185 TCN) là một đế chế hùng mạnh với một lãnh thổ rộng lớn trên lục địa Ấn Độ vào thời cổ đại1. Kinh đô được đặt tại Pataliputra (Hoa-thị Thành) của xứ Magadha (Ma-kiệt-đà), vị vua khai sáng là Chandragupta Maurya (324 – 301 TCN) người đã lật đổ vương triều Nanda (242 – 321 TCN) và đánh tan đế quốc Seleucid của người Macedonia. Người con trai của ông là Bindusāra (301 – 273 TCN) đã mở rộng đế quốc xuống phía Nam và đến tận khu vực Mysore. Vị kế tục đế chế sau cùng là Asoka (273 – 232 TCN), vị vua nổi tiếng nhất với những đóng góp to lớn cho đất nước Ấn Độ nói chung và Phật giáo nói riêng. Triều đại Maurya là thời kỳ mở đầu cho nền mỹ thuật Phật giáo mang đặc điểm của ba phong cách chính: Phong cách trang trọng cung đình, phong cách rừng núi bản địa và phong cách điêu khắc nổi bật và tinh xảo (sản phẩm đô thị kết hợp với phong cách cung đình và thờ cúng)2.

3. Asoka, người mở đầu cho nền nghệ thuật Phật giáo

Asoka (273 – 232 TCN) là hoàng đế thứ ba của triều đại Maurya sau ông nội và cha của ông là Chandragupta Maurya và Bindusāra. Ông được xem là vị vua vĩ đại nhất Ấn Độ, hoàng đế đầu tiên cai trị một vùng lãnh thổ rộng lớn nhất từ trước đến nay. Cuộc đời và sự nghiệp của ông mang đậm những dấu ấn đặc biệt khiến tên tuổi trở thành huyền thoại và đi vào lịch sử. Từ những hành vi khét tiếng tàn bạo (Caṇḍāśoka) trong quá khứ cho đến khi quy ngưỡng Phật giáo, trở thành một vị Phật tử (Dharmāśoka) thuần thành hết lòng vì đất nước và đạo Pháp.

Hoàng đế Asoka rất tích cực, nhiệt thành ủng hộ Chánh pháp và đưa đạo Phật trở thành “Quốc giáo”. Một trong những đóng góp lớn của ông là bảo trợ cuộc “Đại hội kết tập Kinh điển lần thứ 3” với chủ tọa hội nghị là trưởng lão Moggaliputta Tissa (Mục-kiền-liên Tử-đế-tu) và sự ra đời của bộ Kathāvathu (Luận sự) rất nổi tiếng, góp phần quan trọng trong việc chấn chỉnh và phát triển Phật giáo. Không những làm hưng thịnh đạo Phật tại Ấn Độ, Asoka còn mang giáo Pháp vượt ra khỏi biên cương đến những quốc gia tại châu Á bằng các phái đoàn truyền giáo (chín phái đoàn Phật giáo). Nổi bật trong đó là hai người con của ông, Mahindra qua Sri Lanka truyền bá và đặt nền móng cho truyền thống Phật giáo Nam truyền (Theravāda) tại quốc đảo này. Saṅghamitrā là tu sĩ đầu tiên truyền giới Tỳ-kheo-ni sang Sri Lanka và đem cây Bồ-đề con được chiết ra từ cây Bồ-đề tại Bodhgaya (Bồ-đề Đạo-tràng) sang trồng tại đây. Ni giới tại Trung Hoa, Miến Điện, Thái Lan được truyền giới đúng Pháp cũng được bắt nguồn từ quốc gia này3.

Nền nghệ thuật Phật giáo Ấn Độ vĩ đại và hoành tráng được khởi đầu từ thời đại Asoka trị vì, điển hình là những sắc lệnh được khắc vào đá, các hang động, các trụ đá với sự hòa điệu của kiến trúc điêu khắc Phật giáo và yếu lý Kinh Veda (Vệ-đà). Đặc biệt, các đầu trụ đá là những di vật còn sót lại cung cấp cho chúng ta về kiểu mẫu của mỹ thuật thời kỳ Maurya. Nghệ thuật điêu khắc bằng đá đã rất thịnh hành, trở thành phương tiện tuyệt hảo và mang dấu ấn bản xứ của người Ấn Độ. Kiến trúc các trụ đá hay những “chiếc cột vũ trụ, trục thế giới” (Axis Mundi) được xem là đỉnh cao của truyền thống tôn giáo tiền Phật giáo4 và nghệ thuật Phật giáo thời kỳ đầu tiên.

4. Đặc điểm các trụ đá Asoka

Các trụ đá được phân tán trên khắp Ấn Độ. Đó là một quần thể công trình kiến trúc và là một trong những tác phẩm nghệ thuật điêu khắc đá được biết đến sớm nhất tại xứ Ấn. Chúng được tạo dựng tại những địa điểm quan trọng liên quan đến cuộc đời của Đức Phật. Các trụ đá cao khoảng 12 – 15 m, nặng khoảng 50 tấn. Mỗi trụ bao gồm hai phần: Đầu trụ và thân trụ. Phần đầu trụ lại gồm tượng một hay nhiều con thú đứng hay ngồi trên một cái đế hình vuông hoặc tròn. Dưới đế là một cái chuông úp với dáng uốn cong về phía đáy, được cách điệu tạo nên các cánh hoa sen. Phần thân trụ là một khối hình trụ tròn xoay, càng lên cao thì hơi nhỏ lại, được đẽo từ khối đá nguyên và mài láng bóng. Phần đầu trụ được đẽo từ một khối đá khác với thân trụ, hai phần được nối lại vào nhau bởi các chốt kim loại. Chất liệu các trụ đá được tạo bằng sa thạch, tùy xuất xứ mà có màu sắc khác nhau. Sa thạch màu đỏ và trắng tại vùng Mathura, sa thạch cứng hạt mịn có màu được tạo ra với những đốm đen nhỏ được khai thác tại Chunar gần Varanasi. Sự đồng nhất về phong cách nghệ thuật trong các trụ đá cho thấy rằng, tất cả chúng được điêu khắc bởi các nghệ nhân cùng một khu vực.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, vào giai đoạn trị vì Ấn Độ, Asoka đã tạo dựng rất nhiều trụ đá và trụ nào cũng có phần đầu là tượng các con thú. Nhưng chúng đã bị chôn vùi và bị quên lãng bởi các yếu tố chính trị – xã hội hay thiên nhiên. Đặc biệt, vào thế kỷ thứ XIII, Hồi giáo sau khi xâm lăng Ấn Độ đã ra lệnh phá hủy các trụ đá cũng như các Thánh tích quan trọng khác của Phật giáo. Vì thế cho đến nay các nhà khảo cổ chỉ khai quật khám phá được 19 trụ đá có khắc chỉ dụ và 7 trụ đá còn phần đầu tượng thú, còn lại có nhiều trụ với những phần không đầy đủ5.

Hình 2: Bên trái: Tượng voi trên đầu trụ đá tại Sankissa. Bên phải: Tượng bò tại Rampurva. (Wikipedia.org).

Hình 3: Bên trái: Tượng 4 sư tử tại Sārnāth. Bên phải: Tượng 4 sư tử tại Sanchi (Wikipedia.org).

Hình 4: Bên trái: Tượng sư tử tại Vaiśālī. Bên phải: Tượng sư tử ở Rampurva (Wikipedia.org).

Hình 5: Đầu trụ tượng sư tử và trụ đá vua Asoka tại Lauria Nandangarh (Wikipedia.org).

5. Các sắc lệnh và ngôn ngữ

Hiện nay, các nhà khảo cổ tìm thấy được 33 sắc lệnh của Asoka khắc trên đá, vách hang động và các trụ đá. Các sắc lệnh này được tìm thấy tại Ấn Độ, Nepal, Afghanistan, Pakistan và Bangladesh. Trong đó có khoảng 20 sắc lệnh có cùng nội dung được lặp lại nhiều lần, trên 10 sắc lệnh khắc một lần nội dung.

Ngôn ngữ được sử dụng là hệ văn tự cổ gồm bốn văn hệ cho ba ngôn ngữ khác nhau. Phần quan trọng và chiếm đại đa số là ngôn ngữ Prakit, một số khắc bằng ngôn ngữ Hy Lạp, Aramaic và vài sắc dụ khắc bằng cả hai ngôn ngữ Hy Lạp và Aramaic. Ngôn ngữ Prakit được viết dưới hai dạng văn hệ Brāhmī và Kharoṣṭhi (gần với Sanscrit)6.

Trên các sắc lệnh, Asoka tự xưng mình là Devānāmpriya Priyadarśin (Vua lòng thương nhìn đời). Nội dung chính trong các sắc lệnh này nói về chính sách quản lý điều hành đất nước dựa trên những nguyên tắc căn bản của giáo lý nhà Phật. Đó là áp dụng những lời dạy và điều răn của Đức Phật vào trong luật pháp, nếu trước kia những chiến thắng trên chiến trường phải đánh đổi bằng máu và nước mắt thì nay được thay thế bằng những chiến thắng của ánh sáng chân lý Phật pháp: “Bây giờ đối với Người con yêu của các thần linh, chinh phục bằng Phật pháp là chinh phục vinh quang nhất”7.

Mục đích của vua Asoka hướng đến là xây dựng đời sống đạo đức, đem lại hạnh phúc, an lạc cho toàn dân, bảo vệ đời sống của các sinh vật và môi trường, chính sách bình đẳng tôn giáo. Cuối cùng và quan trọng hơn hết là ông muốn cho Chánh pháp được truyền bá khắp nơi tại trong nước cũng như đến khắp mọi nơi trên thế gian.

Hình 6: Vị trí các sắc lệnh của Asoka.
Hình vuông đen: Sắc lệnh chính trên đá.
Hình tam giác đen: Sắc lệnh chính trên trụ đá.
Hình vuông trắng: Sắc lệnh phụ trên đá.
Hình vuông xanh liên tục: Giới hạn lãnh thổ có sắc lệnh (Wikipedia.org).

Hình 7: Sắc lệnh bằng ký tự Brāhmī khắc trên thân trụ đá tại Sārnāth (Wikipedia.org).

Hình 8: Sắc lệnh chính số 1 trên đá tại núi Girnar (Gujerat) (Wikipedia.org).

Hình 9: Sắc lệnh khắc trên đá bằng song ngữ Hy Lạp và Aramaic tại Kandahar (Viện bảo tàng Kabul, Afhanistan) (Wikipedia.org).

Hết phần 1

Thích Thiện Đức


Chú thích

1. Hiện nay là lãnh thổ của nhiều quốc gia như: Ấn Độ, Afghanistan, Bangladesh, Bhutan, Iran, Nepal, Pakistan và Sri Lanka.

2. Sherman E. Lee, Trần Văn Huân (biên dịch) (2007), Lịch sử mỹ thuật Viễn Đông, NXB. Mỹ Thuật, Hà Nội, tr. 98.

3. Sasaki Kyogo và Takasaki Jikidou, Inokuchi Taijun, Tsukamoto Keisho, Thích Đạt Hòa (Hán dịch), Thích Hạnh Bình và Phương Anh (Việt dịch) (2017), Khái luận lịch sử Phật giáo Ấn Độ, NXB. Phương Đông, TP. Hồ Chí Minh, tr. 64 – 67.

4. Roy C. Craven, Nguyễn Tuấn và Huỳnh Ngọc Trảng (dịch) (2005), Mỹ thuật Ấn Độ, NXB. Mỹ Thuật, Hà Nội, tr. 47.

5. Lê Tự Hỷ (2018), Đại đế AŚOKA từ huyền thoại đến sự thật, NXB. Đà Nẵng, tr. 55 – 56.

6. Lê Tự Hỷ (2018), Đại đế Asoka từ huyền thoại đến sự thật, NXB. Đà Nẵng, tr. 31 – 33.

7. Lê Tự Hỷ (2018), Đại đế AŚOKA từ huyền thoại đến sự thật, tr. 48 – 49.

TIN KHÁC
CÙNG CHUYÊN MỤC
Scroll Up